Tra cứu văn bảnThủ tục hành chính Xây dựng Luật Du lịch (sửa đổi) Doanh nghiệp lữ hành quốc tếCSDL hướng dẫn viên du lịchCơ sở lưu trú 3-5 sao
Bộ VHTTDL đã chủ động, “dấn thân” trong quảng bá du lịch qua các bộ phim “khủng”
Cập nhật:
Lượt xem: 898
 
Dự kiến, ngày 10/3, bộ phim được đón chờ nhất năm 2017 “Kong: Skull Island” sẽ ra mắt trên toàn thế giới. Nhân sự kiện này, Báo Điện tử Tổ Quốc đã có cuộc trao đổi với ông Trần Nhất Hoàng, Phó Cục trưởng Cục Hợp tác Quốc tế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) về tiềm năng quảng bá du lịch, văn hóa Việt Nam qua phim ảnh.

Phó Cục trưởng Cục Hợp tác Quốc tế - Bộ VHTTDL Trần Nhất Hoàng. Ảnh: Nam Nguyễn

Quảng Bình đang rất chủ động, năng động và thông minh

- Là người gắn bó từ đầu với dự án phim “Kong: Skull Island”, khi ấy, ông đã có những đánh giá về tiềm năng quảng bá văn hóa và du lịch từ bộ phim này. Bộ phim sắp sửa ra mắt tại Việt Nam, tới lúc này, nhìn về những đánh giá lúc đầu, ông có suy nghĩ gì?

+ Tôi cho rằng, dựa trên tiền lệ thì tiềm năng quảng bá điểm đến qua phim ảnh là rất lớn, tất nhiên việc này còn phải tuỳ thuộc khả năng lan toả của bộ phim cũng như những cảnh quay được dùng trong phim tác động như thế nào đến người xem, điều mà ta nói bây giờ là hơi sớm vì phim chưa chính thức ra mắt.

Tuy nhiên, xét trên mức đầu tư của phim cũng như tiếng tăm của nhà sản xuất và hiệu ứng mà bộ phim đang tạo ra, tôi tiên liệu là bộ phim sẽ có sức lan toả mạnh. Đơn cử, trước khi phim được công chiếu, những diễn viên chính trong phim đồng loạt đăng ảnh họ đã thực hiện quay phim tại Việt Nam với những lời thân thiện kèm theo trên trang mạng cá nhân của họ với hàng triệu người theo dõi, tạo được sức lan toả đáng kể về cảnh quan Việt Nam. Thứ 2, những cảnh trong phim theo như quảng cáo thì được đề cập như một nơi không có thật với những sinh vật không có thật (khác với những cảnh được phim biểu đạt đúng địa danh thật), như vậy chúng ta cần phải quảng bá để mọi người biết cảnh trong phim là có thật tại Việt Nam, đây là việc chúng ta phải làm.

- Người dân và truyền thông kỳ vọng, bộ phim sẽ là “mỏ vàng” để khai thác Việt Nam phim trường của quốc tế. Tuy nhiên, những nơi đoàn làm phim quay cảnh đã gần như không để lại những vật dụng gì, vậy theo ông các địa phương có các điểm đến gắn với bộ phim và ngành du lịch cần tận dụng theo cách nào để có thể quảng bá du lịch?

+ Như đã nói, đây là bộ phim “bom tấn” chi phí đầu tư rất lớn, Hãng Legendary có quy định mang tính nguyên tắc là các bối cảnh dựng lên phải tháo bỏ hoàn toàn ngay sau khi đoàn phim rời khỏi hiện trường vì vấn đề bảo mật hình ảnh, trước khi phim ra rạp, các bối cảnh quay phim và các chi tiết hình ảnh của phim đều phải tuyệt đối bí mật.

Trong một số trường hợp trên thế giới, sau khi phim ra mắt, nếu có ý định, các địa danh có thể đặt lại vấn đề xin bản vẽ bối cảnh và dựng lại, thường đây là việc phải có chi phí bản quyền và chia sẻ lợi nhuận với hãng. Tuy nhiên, cụ thể trong trường hợp này, bối cảnh chính mà phim quay ở Việt Nam chủ yếu là cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, độc đáo, những bối cảnh dựng gần như không có.

Mặc dù vậy, ta vẫn có cách khai thác, đơn cử Quảng Bình là một ví dụ, tôi cho là cách mà Quảng Bình đã và đang làm là cách gắn kết chủ động, năng động và thông minh. Giám đốc Sở VHTTDL Quảng Bình chia sẻ với chúng tôi rằng họ đang tạo ra các sản phẩm du lịch để đưa khách đến với những nơi đoàn đã quay phim, những nơi có cảnh quan đẹp, hùng vĩ như Tú Làn, Hang Va, Động Thiên Đường, suối nước Mọc v.v… để du khách được tiếp cận những điểm quay phim cảnh quan thật và có sự liên tưởng vào cảnh trong phim.

Quảng Bình cũng đã chủ động giữ sự hợp tác chặt chẽ với đoàn phim, họ đã mời được các thành viên đoàn phim quay lại Quảng Bình và tiếp tục thúc đẩy quảng bá hình ảnh các danh thắng địa phương. Chúng ta sẽ cùng chờ đón vì còn nhiều sản phẩm độc đáo, là thành quả của sự hợp tác giữa hai bên sẽ ra mắt trong thời gian tới vì lợi ích của cả hai bên.

Tôi hy vọng và tin tưởng rằng bộ phim sẽ có tiếng vang, mỗi địa phương sẽ có cách tiếp cận riêng để tranh thủ được cơ hội này để đầu tư phát triển thương hiệu của mình.

Về phần Bộ VHTTDL, chúng tôi đã và sẽ kết nối các đầu mối với nhau và gợi mở, hỗ trợ khi các địa phương có điều kiện quảng bá mình khi phim được công chiếu.

- Tới thời điểm này mới có Quảng Bình triển khai một số hoạt động quảng bá du lịch liên quan tới bộ phim. Sau khi đoàn làm phim kết thúc tại Việt Nam, các ý kiến cho rằng, các địa phương dường như chậm chạp trong việc tận dụng sức nóng của bộ phim để quảng bá du lịch. Ông có đánh giá như thế nào về vấn đề này khi mà bộ phim sắp được ra mắt tại Việt Nam?

+ Điển hình cách tiếp cận như Quảng Bình như tôi đã nói trên theo tôi là hết sức kịp thời và có tầm nhìn. Phải nói rằng với chúng ta đây là lần đầu và còn khá mới mẻ, cần nghiên cứu học hỏi cách phát huy các giá trị quảng bá du lịch, đây là câu chuyện không thể làm tốt ngay được khi chưa có kinh nghiệm.

Ví dụ, chúng tôi rất muốn các poster quảng cáo phim tại Việt Nam ghi rõ “Siêu phẩm Hollywood đầu tiên quay tại Việt Nam”, nghe thì đơn giản nhưng chúng ta cần biết từng từ ngữ trên poster của một bộ phim lớn đều phải được hãng và nhà sản xuất duyệt đồng ý. Cuối cùng, chúng tôi đã phối hợp với nhà phát hành và đạt được thoả thuận này tại Việt Nam, trong ngành công nghiệp điện ảnh thì một bộ phim là một sản phẩm thương mại có giá trị rất cao, không dễ có gì được gắn trên đó mà không phải chia sẻ lợi ích! 

Tại thị trường trong nước, Bộ VHTTDL đã phối hợp với hãng phát hành, với TP Hà Nội và Hồ Chí Minh để có cách đưa được hình ảnh bộ phim kèm thông điệp gắn kết quảng bá Việt Nam lên những mô hình lớn, đặt nơi công cộng cho công chúng được chụp ảnh, trải nghiệm những tương tác thú vị với hình ảnh bộ phim, chụp ảnh ảo để chia sẻ trên mạng xã hội, trong thời đại này sự lan toả này là đáng kể.

Chúng tôi cũng đã phối hợp để dựng xong một mô hình tại TP Hồ Chí Minh và trong vài ngày tới có thể dựng tại phố đi bộ của TP Hà Nội. Mô hình này cũng sẽ được dựng tại Khu nghỉ dưỡng Emeralda Ninh Bình.

Các đàm phán khá mất công và phút chót mới đi đến được thống nhất, chúng tôi đưa vào kế hoạch hoạt động của những khu tương tác này các tài liệu, thông tin giới thiệu du lịch Việt Nam. Bộ VHTTDL cũng phối hợp với hãng phát hành để làm tốt công tác truyền thông, nhanh chóng lan toả sự kiện này rộng rãi và tất cả đều là kinh phí từ nguồn xã hội hoá.

Ngoài ra, chúng tôi làm việc với phía đối tác, Tổng cục Du lịch cũng vào cuộc để đề xuất có những hình ảnh hiện trường dùng làm tài liệu quảng bá hoặc tạo ra những tour du lịch đến những nơi quay bộ phim. Mặc dù vậy việc khai thác bản quyền mang tính thương mại không đơn giản và đây là việc cần sự hợp tác của cả các doanh nghiệp xã hội.

Tôi cho rằng chúng ta đã chủ động, đã dấn thân và sẽ đem lại hiệu quả. Việc cần làm là phải làm được nhiều hơn nữa, sáng tạo và chủ động hơn nữa, nhất là các địa phương nơi đoàn quay phim; phối hợp được nhiều hơn nữa với các doanh nghiệp tư nhân.

Đoàn làm phim Kong: Skull Island họp báo tại Hà Nội đầu năm 2016. Ảnh: Báo Thế giới và Việt Nam

Tận dụng phim để quảng bá du lịch không đơn giản như nhiều người nghĩ

- Ông từng phát biểu rằng mong Việt Nam sẽ là phim trường của thế giới. Sau khi công chiếu bộ phim, Việt Nam cần rút kinh nghiệm gì khi cần tận dụng cả các cơ hội từ trước khi đoàn làm phim đến để quảng bá văn hóa, du lịch Việt Nam đến với bạn bè quốc tế?

+ Nói “Việt Nam là phim trường của thế giới” vào lúc này là sớm, nhưng đó là điều ta hướng đến vì ta có tiềm năng, ta có những điều kiện mà nhiều quốc gia không mạnh như ta, cảnh quan thiên nhiên là thứ không làm ra được. Nói tận dụng họ để quảng bá cho ta cũng không đơn giản như nhiều người nghĩ, vấn đề bản quyền khi tận dụng hình ảnh của hãng là rất ngặt nghèo. Trước đây mọi người nói đến việc để diễn viên mặc chiếc áo có in quảng bá cho ta, nhưng ngay cả diễn viên nổi tiếng mặc gì, nói gì cũng phải được thương lượng, bởi thường thì đi kèm với thu được lợi ích là phải chia sẻ lợi ích…

Khi phim được công chiếu, cơ hội quảng bá Việt Nam như một điểm đến quay phim sẽ được mở ra, chúng tôi đã nhận được lời mời từ Hollywood (Mỹ) sang gặp các đối tác tiềm năng và giới thiệu về Việt Nam cho những dự án sau này của họ.

Chúng tôi cũng đang thảo luận với một hai dự án phim lớn của Hollywood đề nghị quay tại Việt Nam; Cục Điện ảnh (Bộ VHTTDL) đã chủ động có những hoạt động quảng bá điểm quay phim tại các sự kiện điện ảnh quốc tế mà Cục tham dự sau khi dự án “Kong: Skull Island” thành công; Quảng Bình vào cuộc chủ động mời đạo diễn quay lại và trải nghiệm hành trình khám phá Sơn Đoòng và đưa tin, quay phim lại nhằm quảng bá du lịch địa phương tới đây v.v… 

Đó là tín hiệu ban đầu đáng mừng.

Phải nói rằng, giờ đây các nhà làm phim lớn của Hollywood đều biết những cảnh đẹp như giả tưởng trong phim là quay tại Việt Nam, Hollywood có vài “ông lớn” và họ có cơ chế thông tin rất chặt chẽ, đầy đủ, điều đó đưa ra hai thông điệp quan trọng: Việt Nam đã có những chính sách rộng mở hợp tác với Hollywood để trở thành nơi quay phim và Việt Nam có ưu thế và tiềm năng lớn về phong cảnh thiên nhiên đẹp, thơ mộng, hùng vĩ.   

Bộ VHTTDL và những cơ quan, tỉnh thành có liên quan, cần tích lũy kinh nghiệm, học hỏi phương thức để phát huy khả năng tận dụng ảnh hưởng của bộ phim để quảng bá du lịch  địa phương mình, quốc gia mình dù đây không phải việc ngày một ngày hai.

Từ cơ hội này, Cục Hợp tác Quốc tế có những đề xuất gì với Bộ VHTTDL trong việc quảng bá văn hóa, du lịch Việt Nam thông qua các đoàn làm phim quốc tế nói riêng và việc hợp tác làm những dự án lớn của Hollywood nói chung?

+ Chúng ta rất có tiềm năng nhờ cảnh quan thiên nhiên phong phú và đẹp, nhưng giờ đây chính sách và kỹ năng hợp tác với các hãng phim Hollywood mới là điều ta cần thúc đẩy.

Vừa rồi là lần đầu nên bắt tay vào việc gì cũng khó khăn và không tưởng tượng được quy mô và mức độ phức tạp của vấn đề. Bộ VHTTDL được Chính phủ ủng hộ, được sự hợp tác rất tốt các Bộ: Quốc phòng, Tài chính, Công An, Tổng cục Hải quan… và các địa phương nữa. Chúng tôi có những chuyên gia giàu kinh nghiệm và những đối tác lăn xả để làm bằng được mới có thể hoàn thành dự án vừa này.

Nói ra chắc khó ai tưởng tượng được một tháng quay phim mà họ mang đến hơn 300 tấn đạo cụ, hàng trăm người đủ các quốc tịch vào bằng máy bay chuyên cơ, mang theo máy bay trực thăng để quay phim, hàng trăm bộ đàm, hàng ngàn cục pin, máy nổ, các mô hình đạo cụ lớn bằng cả cái công-ten-nơ, xuồng, quả nổ v.v… di chuyển ở 4 điểm quay phim. Không dễ dàng như những gì ta thấy bên ngoài.

Chúng tôi mong tiến tới ta có được các chính sách ưu đãi dành riêng cho các dự án quay phim lớn như một số nước đã có, trong đó quan trọng nhất là chính sách hoàn thuế. Chúng ta cũng cần có những người chuyên nghiệp trong công tác này để hợp tác với các hãng phim quay phim tại Việt Nam bằng cách cử đi đào tạo tại các nước lân cận giàu kinh nghiệm.

Ngoài ra, chúng ta cũng cần khuyến khích và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp chuyên nghiệp mời gọi các hãng phim quốc tế và Nhà nước hỗ trợ họ khi cần, từng bước công tác này sẽ sôi động hơn, chúng ta sẽ thu được nhiều hơn, nhất là quảng bá quốc gia./.

Nguồn: toquoc.vn