Phát triển du lịch theo xu hướng tăng trưởng xanh và bền vững (kỳ 2)

Cập nhật:
Lượt xem: 1.468

Trước bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng đe dọa trực tiếp đến sinh kế của người dân, định hướng phát triển kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh đang được nhiều quốc gia áp dụng. Trong đó, việc phát triển du lịch theo xu hướng này cũng không phải là ngoại lệ. Phát triển du lịch theo xu hướng tăng trưởng xanh sẽ giúp cho người dân đảm bảo cuộc sống gắn với sinh kế vốn có trên chính vùng đất của họ, nền kinh tế sẽ phát triển có tính ổn định và bền vững.

Cánh đồng lúa Tam Cốc (ảnh: Thế Phi)

4. Định hướng tăng trưởng xanh của Việt Nam

Trong xu thế phát triển chung hiện nay và tương lai của thế giới, Việt Nam không thể và đã không đứng ngoài định hướng thúc đẩy tăng trưởng xanh. Định hướng rõ và cụ thể nhất là ngày 25/9/2012, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 1393/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 với những nội dung chủ yếu sau đây:

Về quan điểm: Tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững và góp phần quan trọng thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu; Tăng trưởng xanh phải do con người và vì con người, góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân; Tăng trưởng xanh dựa trên tăng cường đầu tư vào bảo tồn, phát triển và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tự nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện nâng cao chất lượng môi trường, qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế; Tăng trưởng xanh phải dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam; Tăng trưởng xanh là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, các cấp chính quyền, các Bộ, ngành, địa phương, các doanh nghiệp và tổ chức xã hội.

Về mục tiêu: Tăng trưởng xanh, tiến tới nền kinh tế carbon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững; giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Cụ thể là: 1) Tái cấu trúc và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng xanh hóa các ngành hiện có và khuyến khích phát triển các ngành kinh tế sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên với giá trị gia tăng cao; 2) Nghiên cứu, ứng dụng ngày càng rộng rãi công nghệ tiên tiến nhằm sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên, giảm cường độ phát thải khí nhà kính, góp phần ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu; 3) Nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng lối sống thân thiện với môi trường thông qua tạo nhiều việc làm từ các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ xanh, đầu tư vào vốn tự nhiên, phát triển hạ tầng xanh.

Về nhiệm vụ: 1) Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; 2) Xanh hóa sản xuất; 3) Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

Về giải pháp thực hiện: 1) Tuyên truyền, nâng cao nhận thức, khuyến khích hỗ trợ thực hiện; 2) Nâng cao hiệu suất và hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm mức tiêu hao năng lượng trong hoạt động sản xuất, vận tải, thương mại; 3) Thay đổi cơ cấu nhiên liệu trong công nghiệp và giao thông vận tải; 4) Đẩy mạnh khai thác có hiệu quả và tăng tỷ trọng các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới trong sản xut và tiêu thụ năng lượng của quốc gia; 5) Giảm phát thải khí nhà kính thông qua phát triển nông nghiệp hữu cơ bn vững, nâng cao tính cạnh tranh của sản xuất nông nghiệp; 6) Rà soát, điều chỉnh quy hoạch các ngành sản xuất, dần hạn chế những ngành kinh tế phát sinh chất thải lớn, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, tạo điều kiện phát triển các ngành sản xuất xanh mới; 7) Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên; 8) Thúc đẩy các ngành kinh tế xanh phát triển nhanh để tạo thêm việc làm, nâng thu nhập, làm giàu thêm ngun vn tự nhiên; 9) Phát triển kết cấu hạ tầng bền vững chủ yếu gồm: Hạ tầng giao thông, năng lượng, thủy lợi và các công trình xây dựng đô thị; 10) Đổi mới công nghệ, áp dụng phổ biến sản xuất sạch hơn; 11) Đô thị hóa bền vững; 12) Xây dựng nông thôn mới với lối sống hòa hp với môi trường; 13) Thúc đẩy tiêu dùng bền vững và xây dựng lối sng xanh; 14) Huy động nguồn lực thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh; 15) Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; 16) Nghiên cứu phát triển khoa học và công nghệ, ban hành hệ thống tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật và thông tin dữ liệu về tăng trưởng xanh; 17) Hợp tác quốc tế.

5. Phát triển du lịch bền vững gắn với tăng trưởng xanh

Đối với lĩnh vực du lịch, năm 2012, Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) và Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) đã phối hợp nghiên cứu và công bố báo cáo liên quan đến phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh chỉ rõ 6 thách thức lớn mà du lịch thế giới phải đối mặt: 1) Năng lượng và hiệu ứng nhà kính; 2) Tiêu dùng nước; 3) Quản trị rác và chất lượng nước; 4) Đa dạng sinh học; 5) Sự giảm thiểu của đa dạng sinh học; và 6) Quản trị xây dựng và di sản văn hóa. Sáu thách thức này buộc du lịch thế giới phải phát triển theo hướng tăng trưởng xanh với mục tiêu là phát triển du lịch bền vững.

Để phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh, các quốc gia phải chú trọng đến: 1) Tiêu dùng trong du lịch; 2) Sự hưởng lợi của người lao động du lịch và liên quan đến du lịch; 3) Lợi ích về môi trường; 4) Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa; và 5) Mô hình hóa phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh. Muốn vậy cần: 1) Quan tâm nhiều hơn đến khu vực tư nhân; 2) Phát huy vai trò của chính phủ trong quy hoạch phát triển du lịch; 3) Hoạch định chính sách tài chính và sử dụng công cụ kinh tế; 4) Đầu tư tài chính cho phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh; 5) Đầu tư cho các địa phương và khu vực có hoạt động du lịch theo hướng tăng trưởng xanh.

Thời gian qua, Cộng đồng ASEAN đã có Tiêu chuẩn khách sạn Xanh ASEAN với một quy trình cấp giấy chứng nhận mà làm tăng sự bảo tồn môi trường thân thiện và năng lượng trong ngành lưu trú ASEAN, với một thỏa thuận thống nhất trong các nước thành viên ASEAN. Việc phát triển Tiêu chuẩn khách sạn Xanh ASEAN đảm bảo việc thực hiện Kế hoạch Chiến lược Du lịch ASEAN (ATSP) 2011-2015 được thông qua bởi Bộ trưởng Du lịch ASEAN đã vạch ra biện pháp 2.1.1: “Sửa đổi tiêu chuẩn khách sạn Xanh ASEAN với một quy trình cấp giấy chứng nhận”. Tiêu chuẩn Khách sạn Xanh ASEAN là một sáng kiến ASEAN dành riêng cho việc thúc đẩy các biện pháp du lịch bền vững trên toàn ASEAN. Tiêu chuẩn Khách sạn Xanh ASEAN đang hoạt động trong tất cả các nước ASEAN. Tiêu chuẩn Khách sạn Xanh ASEAN thúc đẩy du lịch bền vững thông qua việc áp dụng cách tiếp cận thân thiện môi trường và tiết kiệm năng lượng, biên soạn, áp dụng và tạo ra các công cụ và đào tạo để khuyến khích thực hiện các biện pháp khách sạn xanh ASEAN. Định hướng trọng tâm của Tiêu chuẩn Khách sạn Xanh ASEAN là thúc đẩy du lịch bền vững thông qua các yêu cầu tối thiểu mà bất cứ hoạt động kinh doanh khách sạn mong muốn đạt được để bảo vệ và duy trì tài nguyên thiên nhiên và văn hóa của các nước ASEAN trong khi đảm bảo du lịch đáp ứng tiềm năng của nó như một công cụ để bảo tồn di sản và xóa đói giảm nghèo.

Định hướng khách sạn xanh ASEAN tập trung vào: 1) Chính sách và các biện pháp môi trường trong hoạt động khách sạn; 2) Sử dụng các sản phẩm  xanh; 3) Hợp tác với các tổ chức cộng đồng địa phương; 4) Phát triển nguồn nhân lực; 5) Quản lý chất thải rắn; 6) Sử dụng năng lượng có hiệu quả; 7) Sử dụng nước có hiệu quả và chất lượng nước; 8) Quản lý chất lượng không khí (bên trong và bên ngoài khách sạn);  9) Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn; 10) Xử lý và quản lý chất thải; 11) Quản lý chất thải độc hại và hóa chất.

Đối với Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt "Chiến lược phát triển du lich Việt Nam đến năm 2030" tại Quyết định số 147/QĐ-TTg, ngày 22/01/2020 là những định hướng cụ thể về phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh, với nội dung chính sau:

Về quan điểm: Phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển các ngành và lĩnh vực khác, góp phần quan trọng hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại. Phát triển du lịch bền vững và bao trùm, trên nền tảng tăng trưởng xanh, tối đa hóa sự đóng góp của du lịch cho các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Chú trọng phát triển du lịch văn hóa, gắn phát triển du lịch với bảo tồn, phát huy giá trị di sản và bản sắc văn hóa dân tộc. Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, chất lượng, hiệu quả; đẩy mạnh ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Phát triển đồng thời du lịch quốc tế và du lịch nội địa; đẩy mạnh xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch; tăng cường liên kết nhằm phát huy lợi thế tài nguyên tự nhiên và văn hóa; phát triển đa dạng sản phẩm du lịch, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam.

Về mục tiêu: Đến năm 2025, Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn, phấn đấu thuộc nhóm ba quốc gia dẫn đầu về phát triển du lịch trong khu vực Đông Nam Á và 50 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới, trong đó tất cả 14 tiêu chí năng lực cạnh tranh du lịch đều tăng, phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững. Đến năm 2030, du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn và phát triển bền vững. Việt Nam trở thành điểm đến đặc biệt hấp dẫn, thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới, đáp ứng đầy đủ yêu cầu và mục tiêu phát triển bền vững.

Về giải pháp: 1) Tiếp tục đổi mới nhận thức, tư duy phát triển du lịch. 2) Hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển du lịch. 3) Phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. 4) Phát triển nguồn nhân lực du lịch. 5) Phát triển và đa dạng hóa thị trường khách du lịch. 6) Phát triển sản phẩm du lịch. 7)  Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá, xây dựng thương hiệu du lịch và hợp tác, hội nhập quốc tế về du lịch. 8) Ứng dụng khoa học, công nghệ. 9) Quản lý nhà nước về du lịch.

Năm 2013, Tổng cục Du lịch, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác phát triển Quốc tế Tây Ban Nha (AECID) xây dựng các Bộ tiêu chí Nhãn Du lịch xanh cho 4 loại cơ sở dịch vụ du lịch, gồm: 1) Nhà hàng phục vụ khách du lịch; 2) Cửa hàng mua sắm phục vụ khách du lịch; 3) Điểm dừng chân phục vụ khách du lịch; 4) Điểm tham quan du lịch. Tài liệu là kết quả khảo sát, nghiên cứu thực địa ở nhiều cơ sở dịch vụ du lịch, để xuất cách thức, quy trình đánh giá để cấp Nhãn Du lịch xanh cho các cơ sở dịch vụ du lịch kể trên. Đây là các định hướng, hướng dẫn cơ bản để các nhà đẩu tư, nhà quản lý và nhân viên các cơ sở dịch vụ du lịch áp dụng nhằm đưa cơ sở trở thành một điểm du lịch xanh, góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội, thúc đẩy phát triển du lịch Việt Nam theo hướng tăng trưởng xanh và phát triển bển vững.

6. Một số khuyến nghị phát triển du lịch Việt Nam theo mô hình tăng trưởng xanh theo hướng bền vững

Nhận thức được vấn đề tăng trưởng xanh là một xu hướng phát triển quan trọng và mang đến nhiều lợi ích hiện nay, các cơ quan, tổ chức và cá nhân ở Việt Nam thời gian qua cũng đã từng bước có sự quan tâm, tiếp cận dưới nhiều hình thức khác nhau. Đầu tiên và quan trọng nhất phải kể đến chính là việc Chính phủ đã cho xây dựng và ra quyết định phê duyệt Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2013-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 vào năm 2012. Điều này cho thấy một sự đánh giá quan trọng mang tính cấp thiết của Nhà nước đối với một xu hướng phát triển đang ngày càng trở nên phổ biến trên Thế giới. Qua đó, tạo nên cơ sở nền tảng thuận lợi cho việc triển khai, vận dụng phương thức phát triển tiến bộ này vào trong thực tiễn phát triển của Việt Nam.

 Tuy nhiên, cho đến nay, mặc dù đã có những cố gắng, nhưng do thời gian quá ngắn và nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, nên việc xanh hóa nền kinh tế ở Việt Nam nhìn chung gần như chỉ mới dừng lại ở những bước đi đầu tiên và còn rất nhiều khó khăn, hạn chế. Phần lớn vẫn đang là những chính sách chung và sự kêu gọi, khuyến khích từ phía Nhà nước và các cơ quan chức năng, chứ chưa thực sự trở thành những hoạt động thực tiễn cụ thể và mang tính sâu rộng.

Từ các định hướng tăng trưởng xanh trên thế giới và Việt Nam, những công trình và quy định liên quan trực tiếp đến phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh đã bao quát nội hàm, ý nghĩa, mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, giải pháp, cách thức thực hiện..., là cơ sở pháp lý thúc đẩy tăng trưởng xanh trong phát triển du lịch Việt Nam. Quá trình thực hiện nên triển khai một cách hài hòa và hợp lý, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh trong từng giai đoạn phát triển của Việt Nam nói chung và Du lịch Việt Nam nói riêng, cần có có những định hướng cụ thể để điều chỉnh dần dần quá trình phát triển, tránh gây ra những vấn đề xã hội do sự chuyển đổi này gây ra; để du lịch trở nên thân thiện môi trường hơn, giảm bớt việc dựa vào các yếu tố không bền vững và tăng dần các yếu tố bền vững (dựa vào vị trí địa chính trị, kinh tế tri thức, khoa học - công nghệ, tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu, cảnh quan, văn hóa, truyền thống, con người...) cho sự phát triển du lịch, phát huy tốt vai trò của một ngành kinh tế mũi nhọn.

Để du lịch Việt Nam phát triển theo xu hướng tăng trưởng xanh và bền vững, xin đề xuất một số khuyến nghị sau:

1) Phát triển năng lượng tái tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong hoạt động du lịch: Tăng cường sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, năng lượng gió, khí sinh học với sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại và thúc đẩy việc sử dụng các nguồn năng lượng này để hỗ trợ sinh kế, sản xuất và toàn bộ nền kinh tế, trong đó có kinh tế du lịch. Sử dụng rộng rãi những nguồn năng lượng sạch và gần như vô tận này có thể đáp ứng được nhu cầu năng lượng trong tỉnh khi giúp giảm phát thải khí nhà kính trong hoạt động du lịch.

2) Kiểm soát phát thải khí nhà kính từ các cơ sở du lịch: Kiểm soát phát thải khí nhà kính từ 4 lĩnh vực chính là cơ sở lưu trú, lữ hành, cơ sở vui chơi giải trí và các điểm đến du lịch. Phát thải có thể do các quá trình xây dựng và vận hành các công trình du lịch, giao thông du lịch, phát điện phục vụ du lịch, sử dụng hóa chất trong các hoạt động sản xuất dịch vụ du lịch cần phải được kiểm soát chặt chẽ.

3) Kiểm soát phát sinh rác thải, chất thải và tái sử dụng cho sản xuất du lịch xanh hơn: Để tăng cường đóng góp của ngành Du lịch, đã có chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch đến năm 2030. Phát triển du lịch, cùng với các hoạt động khác trong công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, sẽ gia tăng chất thải rắn và lỏng, tiếng ồn và nếu không được kiểm soát tốt, sẽ gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người. Mục tiêu của định hướng này là kiểm soát việc xả thải và tăng cường xử lý các loại chất thải khác nhau trong du lịch và các ngành liên quan du lịch.

4) Khuyến khích các hệ thống sử dụng đất bền vững và thông minh với biến đổi khí hậu: Phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn đã được ghi nhận là một trong những chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất bền vững (hiệu quả sử dụng tài nguyên cao) và có khả năng đem lại thu nhập cao và ổn định cho tất cả các chủ thể tham gia. Phát triển chuỗi giá trị sản phẩm du lịch trong nông nghiệp như vậy là phù hợp trong ứng phó với biến đổi khí hậu trong tương lai. 

5) Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nước và đa dạng sinh học và tài nguyên văn hóa: Định hướng này nhằm thúc đẩy hơn nữa việc bảo vệ tài nguyên du lịch (cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa) và giảm phát thải trong các hoạt động liên quan, dừng việc chuyển đổi đất rừng sang canh tác nông nghiệp, đất ở hoặc đất phục vụ các dự án phát triển, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, gắn với sức chứa môi trường, trong đó có môi trường du lịch. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, tài nguyên du lịch văn hóa cần được chú trọng hơn nữa, nhất là trong tiếp thu chọn lọc tinh hóa văn hóa, trong đó có văn hóa du lịch thế giới.

6) Tăng cường tiếp cận thị trường và nâng cao chất lượng các sản phẩm hàng hóa du lịch chính và sản phẩm du lịch thay thế: Một trong những khía cạnh cần quan tâm trong tăng trưởng kinh tế xanh nói chung và phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh nói riêng, là phát triển thông qua nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao giá trị thu được trên một đơn vị sản phẩm cả ở thị trường du lịch nội địa và du lịch quốc tế. Hiện nay giá trị gia tăng của các sản phẩm du lịch chưa cao, nên giá bán sản phẩm trên thị trường không tốt và sức cạnh tranh trên thị trường không cao. Hoạt động kinh doanh du lịch đã phát triển nhanh đến năm 2019, nhưng chủ yếu là khai thác giá trị tài nguyên du lịch. Để nâng cao chất lượng sản phẩm, cần đẩy mạnh phát triển du lịch thông minh. Trong định hướng này, việc tăng cường chất lượng sản phẩm và quá trình sáng tạo thông minh thông qua việc tham gia các chứng chỉ xanh cần phải được nhấn mạnh. Ngoài ra, định hướng cũng bao gồm phát triển các thương hiệu sản phẩm du lịch chất lượng cao, sản phẩm du lịch đặc thù để tăng giá trị thương mại.

7) Phát triển du lịch xanh và bền vững: Dịch vụ là ngành đóng góp khá lớn vào GDP của cả nước và GRDP của các địa phương, trong đó du lịch đóng vai trò quan trọng và có tiểm năng lớn. Việt Nam từ lâu đã khẳng định có thế mạnh du lịch nhờ cảnh quan đẹp, khí hậu thuận lợi và các di sản văn hóa phong phú, lòng hiếu khách và tính thân thiện của cư dân, tuy nhiên vẫn có nhiều thách thức mà ngành Du lịch cần giải quyết, trong đó có việc phát triển du lịch bền vững trong tất cả các loại hình du lịch, xây dựng và phát triển văn hóa du lịch. Điều cần thiết là xây dựng các điểm đến du lịch xanh-sạch-đẹp và an toàn-thân thiện để thu hút du lịch; đồng thời với việc xây dựng một "quy tắc ứng xử du lịch văn minh" để “lấy lòng” du khách và các nhà đầu tư, vận động họ tôn trọng môi trường và văn hóa bản địa. Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng địa phương trong các hoạt động du lịch với một cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng rất cần đặc biệt quan tâm để phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh, đạt mục tiêu bền vững.

8) Khuyến khích hình thành lối sống xanh và tiêu dùng bền vững trong du lịch: Phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh cần có sự hỗ trợ bởi lối sống xanh và tiêu dùng bền vững của tất cả các chủ thể tham gia hoạt động du lịch (khách du lịch, tất cả người dân, các cộng đồng địa phương, các doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu, các nhà truyền thông, chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước) và các hoạt động liên quan đến du lịch. Các nhóm can thiệp ưu tiên trong định hướng này chủ yếu là quản lý sử dụng tài nguyên du lịch (cả tài nguyên tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa), nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của kiểm soát chất thải và áp dụng các mô hình tiêu dùng bền vững, và phát triển các công nghệ xanh, các công nghệ tiếp thị xanh, để giảm phế thải và tăng cường sản lượng du lịch trên cơ sở sức chữa bền vững.

9) Tạo môi trường thuận lợi để chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, trong đó có du lịch xanh: Việc chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, du lịch xanh không diễn ra một cách tự nhiên: một loạt rào cản cần được gỡ bỏ và đầu tư vào các ngành kinh tế xanh và các dự án kinh tế xanh, trong đó có du lịch, phải trở nên hấp dẫn với các bên liên quan, gồm cả khối tư nhân và khối nhà nước, công - tư. Nếu kết hợp hài hòa các biện pháp thúc đẩy về tài chính, chính sách, công nghệ và cơ sở hạ tầng, thì nền kinh tế xanh, du lịch xanh sẽ xuất hiện do kết quả của các hoạt động. Một số biện pháp chỉ có thể được thực hiện trong phát triển du lịch tăng trưởng xanh cấp quốc gia, nhưng nhiều biện pháp có thể được thực hiện ở cấp thấp hơn. Do đó, nên đưa ra các ​​chính sách cấp trung ương và địa phương, thiết kế trên các tiêu chí: hiệu quả cao, chi phí phù hợp, có khuyến khích cho việc áp dụng và tuân thủ, có khả năng thích ứng với các biến động nhất định, và cung cấp thông tin rõ ràng, minh bạch và đáng tin cậy cho các nhà đầu tư.

TS. Đoàn Mạnh Cương, Văn phòng Quốc hội