Nâng cao xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch theo Diễn đàn Kinh tế thế giới về Mức độ toàn diện dữ liệu thống kê du lịch (Kỳ 2)

Cập nhật:
Lượt xem: 332

(TITC) - Dữ liệu thống kê du lịch là thước đo đánh giá thực trạng của ngành du lịch. Trong những năm qua, ngành du lịch đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng thống kê du lịch, áp dụng phương pháp thống kê Tài khoản vệ tinh du lịch (TSA) theo khuyến nghị của Liên hợp quốc. Tuy nhiên, cần có cái nhìn tổng quát từ chỉ số Mức độ toàn diện về dữ liệu thống kê du lịch hàng năm theo Báo cáo năng lực cạnh tranh du lịch của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) để có giải pháp tổng thể, quyết liệt hơn, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam theo Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2019 và 2020.

Phần 2 với tiêu đề "Thực trạng về  về dữ liệu thống kê du lịch hàng năm của Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị" tiếp theo nội dung Phần 1: "Khái quát về năng lực cạnh tranh ngành du lịch và các chỉ số thống kê du lịch".

 

Phần 2: Thực trạng về dữ liệu thống kê du lịch hàng năm của Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

1. Thực trạng về dữ liệu thống kê du lịch hàng năm của Việt Nam so sánh với yêu cầu về mức độ toàn diện về dữ liệu thống kê du lịch  

Chỉ số Mức độ toàn diện về dữ liệu thống kê du lịch hàng năm của Việt Nam đạt 46/120 điểm, xếp hạng 112/140 nền kinh tế theo Báo cáo năm 2019, đã cải thiện so với 38/120 điểm, hạng 116/136 theo Báo cáo năm 2017. Việt Nam còn ở sau với khoảng cách xa so với Thái Lan năm 2017 đạt 78 điểm, hạng 41/136, năm 2019 đạt 89 điểm, hạng 29/141 và cách rất xa so với nước đứng đầu trong Báo cáo năm 2017 và 2019 là Tây Ban Nha với 118/120 điểm năm 2019.

Từ năm 2013, Tổng cục Du lịch đã tổ chức các cuộc điều tra để thu thập thông tin về đặc điểm và chi tiêu của khách du lịch theo các khuyến nghị về thống kê du lịch của UNWTO, bao gồm: Điều tra thông tin khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, các năm 2014, 2017 và 2019; Điều tra thông tin khách du lịch nội địa, các năm 2013-2014, 2016 và 2019; Điều tra thông tin khách du lịch Việt Nam ra nước ngoài năm 2016.

Biểu đồ 3. Một số kết quả thống kê du lịch Việt Nam

Từ các kết quả điều tra, có thể nhận định về khả năng cung cấp dữ liệu về các nhóm chỉ số như sau:

(1) Về cơ bản có thể cung cấp được thông tin cho các chỉ số thuộc nhóm 1, 2 và 3 liên quan đến du lịch inbound, outbound và nội địa.

(2) Thông tin cho các chỉ số nhóm 4 (các cơ sở trong ngành du lịch) hiện nay còn thiếu, chưa đồng bộ do các cơ sở chưa thực hiện nghiêm chế độ báo cáo thống kê du lịch theo quy định, đồng thời cơ sở dữ liệu ngành về các chỉ số này đang trong giai đoạn hình thành, nhất là đối với các cơ sở lưu trú phục vụ khách du lịch.

(3) Chưa có đầy đủ dữ liệu để có thể cung cấp thông tin về các chỉ số nhóm 5 (nhân lực trong ngành du lịch).    

Báo cáo của UNWTO về thực trạng các dữ liệu thống kê du lịch Việt Nam thể hiện thực tế như sau:

(1) Dữ liệu nhóm 1 về các chỉ số liên quan đến du lịch quốc tế đến Việt Nam đầy đủ nhất.

(2) Dữ liệu nhóm 2 về các chỉ số liên quan đến du lịch nội địa và nhóm 3 về khách du lịch Việt Nam đi nước ngoài và nhóm 4 về các cơ sở du lịch còn thiếu nhiều thông tin.

(3) Dữ liệu về các chỉ số nhóm 5 về nhân lực trong ngành du lịch còn thiếu thông tin để báo cáo.

Như vậy, điểm yếu nhất hiện nay là dữ liệu về nhân lực trong ngành du lịch, cũng phản ánh đúng thực tế là ngành du lịch chưa biên soạn được các chỉ tiêu về nhân lực du lịch theo khuyến nghị về thống kê của Liên hợp quốc do thiếu dữ liệu điều tra tổng thể. Ngoài dữ liệu về khách du lịch quốc tế đến đầy đủ hơn, các nhóm dữ liệu khác thông tin còn sơ sài, chưa đồng bộ, tác động đến xếp hạng về mức độ toàn diện về dữ liệu thống kê du lịch của Việt Nam nói riêng, mức độ ưu tiên cho ngành du lịch và năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam nói chung.

2. Một số đề xuất, kiến nghị

Từ yêu cầu và thực trạng nêu trên, để cải thiện chỉ số mức độ toàn diện về dữ liệu thống kê du lịch hàng năm của Việt Nam, cần thực hiện các giải pháp sau đây:

Một là, đẩy mạnh hơn nữa công tác thống kê du lịch trong phạm vi toàn quốc nhằm  “bổ sung, hoàn thiện công tác thống kê du lịch để xác định rõ vị trí ngành du lịch trong tổng thể phát triển của nền kinh tế quốc dân và của các địa phương có tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch” theo Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 06/10/2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ nhằm thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Hai là, tiếp tục nghiên cứu, phổ biến, tăng cường áp dụng phương pháp Tài khoản vệ tinh du lịch (TSA) trong công tác thống kê du lịch. Thành lập Nhóm công tác liên ngành gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhằm rà soát, biên soạn TSA. Với việc triển khai toàn diện TSA, không chỉ cải thiện được chỉ số về Mức độ toàn diện về thống kê du lịch hàng năm mà còn cải thiện cả chỉ số Chi tiêu của Chính phủ cho du lịch hiện nay chưa có số liệu đầy đủ.

Đây là giải pháp quan trọng nhằm tăng cường hợp tác giữa cơ quan du lịch và cơ quan thống kê như các mô hình thành công trên thế giới trong việc áp dụng TSA. Ở Việt Nam, Tổng cục Du lịch và Tổng cục Thống kê đã có những hoạt động hợp tác, phối hợp về chuyên môn trong công tác điều tra, thống kê du lịch, tuy nhiên chưa có khuôn khổ, cơ chế hợp tác chung với định hướng thống nhất. Ở Thái Lan, một ủy ban chung được thiết lập nhằm tăng cường công tác thống kê, áp dụng TSA.

Ảnh. Hội thảo áp dụng TSA do UNESCAP và UNWTO chủ trì

Ba là, tiếp tục nâng cao chất lượng thu thập dữ liệu về cả khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, khách du lịch nội địa và khách du lịch Việt Nam đi nước ngoài, mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng ban đầu. Điều tra cả 3 đối tượng khách cần triển khai đồng bộ, định kỳ và thường xuyên hơn.

Trong khi Thái Lan tiến hành điều tra thường xuyên quanh năm và hàng năm thì Việt Nam mới điều tra được khoảng 2-3 năm/lần, tập trung khoảng 3 tháng trong năm đối với mỗi cuộc điều tra. Ấn Độ đã áp dụng TSA đối với các vùng trong khi Việt Nam mới tiếp cận và áp dụng thí điểm đối với một số địa phương, tiêu biểu là Quảng Ninh.

Bốn là, tổ chức xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê nhân lực du lịch trong ngành du lịch theo khuyến nghị của Liên hợp quốc. Đây là nhiệm vụ quan trọng để đánh giá được cả tác động kinh tế và tác động xã hội của hoạt động du lịch nhưng chưa từng được thực hiện.

Năm là, từng bước hoàn thành các chỉ tiêu TSA về tài sản cố định của ngành du lịch và các ngành khác (Bảng 8); chi tiêu công trong du lịch theo sản phẩm và theo các cấp chính quyền (Bảng 9) và các chỉ tiêu phi tiền tệ (Bảng 10) để có thể cung cấp thông tin về tất cả các chỉ tiêu tại Báo cáo tổng hợp số liệu thống kê du lịch của UNWTO./.

Lê Tuấn Anh - Trung tâm Thông tin du lịch

Tài liệu tham khảo:

United Nations. (2010). International Recommendations for Tourism Statistics 2008. New York: United Nations.

United Nations. (2010). Tourism Satellite Account: Recommended Methodological Framework. Luxembourg, Madrid, New York, Paris: United Nations.

World Economic Forum. (2019). The Travel & Tourism Competitiveness Report: Travel and Tourism at a Tipping Point. Geneve: World Economic Forum.

World Tourism Organization. (2020). Compendium of Tourism Statistics Data 2014-2018 (2020 ed.). Madrid: World Tourism Organization.