Tra cứu văn bảnThủ tục hành chính Xây dựng Luật Du lịch (sửa đổi) Doanh nghiệp lữ hành quốc tếCSDL hướng dẫn viên du lịchCơ sở lưu trú 3-5 sao
Một số thành tựu trong quá trình phát triển của ngành Du lịch Việt Nam - Bài 1
Cập nhật:
Lượt xem: 18859
 
Tại cuộc Triển lãm “40 năm ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, gian trưng bày của Tổng cục Du lịch đã chuyển đến khách tham quan thông điệp về quá trình hình thành và phát triển của ngành Du lịch Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn 40 năm - ngành Du lịch thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trang tin vietnamtourism.gov.vn giới thiệu một số nội dung đã được thể hiện để trưng bày tại cuộc Triển lãm từ 28/8 đến 2/9/2009.

 

Trung tâm Thông tin du lịch

 

 

Bài 1: Những thay đổi về tổ chức bộ máy và hoạt động của ngành Du lịch

 

Một số mốc thời gian

- Thành lập Công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương. Nghị định số 26-CP ngày 9/7/1960 của Hội đồng Chính phủ.

- Chuyển giao Công ty Du lịch Việt Nam sang Phủ Thủ tướng quản lý. Nghị định số 145 CP ngày 18/8/1969 của Hội đồng Chính phủ.

- Thành lập Tổng cục Du lịch trực thuộc Hội đồng Chính Phủ. Nghị quyết số 262 NQ/QHK6 ngày 27/6/1978 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước CHXHCNVN.

- Tổng cục Du lịch là cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng. Nghị định số 120 - HĐBT ngày 15/8/1987 Hội đồng Bộ trưởng về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch.

- Thành lập Tổng công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao và Du lịch, Trên cơ sở tổ chức lại Bộ máy của Tổng cục Du lịch cũ. Nghị định số 119-HĐBT ngày 9/4/1990 của Hội đồng Bộ trưởng.

- Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao và Du lịch là cơ quan quản lý nhà nước đối với ngành Du lịch. Nghị định số 447-HĐBT ngày 31/12/1990 của Hội đồng bộ trưởng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao và Du lịch.

- Sáp nhập Tổng cục Du lịch vào Bộ Thương mại và Du lịch. Nghị quyết của Quốc hội về việc chuyển chức năng quản lý Nhà nước về du lịch sang Bộ Thương mại và Du lịch.

- Thành lập Tổng cục Du lịch là cơ quan thuộc Chính Phủ. Nghị định số 05-CP ngày 26/10/1992.

- Thành lập Chi hội PATA Việt Nam, năm 1994.

- Thành lập Hiệp hội Du lịch Việt Nam, 25/12/2002.

- Sáp nhập Tổng cục Du lịch vào Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Nghị định số 09/NĐ-CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ.

 

Bộ máy và năng lực quản lý nhà nước về Du lịch, hệ thống kinh doanh du lịch từng bước được kiện toàn, thích ứng dần với cơ chế mới

Nhìn chung, giai đoạn từ tháng 10 năm 1992 trở về trước, hệ thống tổ chức bộ máy ngành Du lịch chưa thực sự định hình và thiếu tính thống nhất về mô hình tổ chức ở các địa phương. Trong 32 năm (1960 - 1992) đã có 6 lần chuyển đổi tổ chức bộ máy ngành Du lịch. Vì vậy, sự chỉ đạo trực tiếp của bộ máy quản lý nhà nước về Du lịch từ Trung ương xuống các tỉnh, thành phố và doanh nghiệp mất tính liên tục, hạn chế hiệu lực, hiệu quả và ngành Du lịch tụt hậu so với du lịch các nước có điều kiện tương đồng. Tổ chức bộ máy chưa ngang tầm với vị trí, vai trò, yêu cầu phát triển của ngành Du lịch; cán bộ phân tán, mất đi tính thừa kế. Trước tình trạng đó, trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội, ngày 17/10/1992, Chính phủ đã có Nghị định số 05/CP thành lập lại Tổng cục Du lịch; tiếp đó có Nghị định số 20-CP, ngày 27/12/1992 và Nghị định số 53-CP, ngày 07/8/1995, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch. Theo đó, Tổng cục Du lịch có 5 vụ, Thanh tra, Văn phòng; 4 đơn vị sự nghiệp và 27 doanh nghiệp trực thuộc. Nhờ ổn định và từng bước được kiện toàn về tổ chức, du lịch nước ta đã khởi sắc và phát triển. Ngày 18/9/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2003NĐ-CP về chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Du lịch. Theo Nghị định này, Tổng cục Du lịch là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về du lịch trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong du lịch và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể về đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp trực thuộc. Từ chức năng đó, Tổng cục Du lịch có 20 nhiệm vụ; cơ cấu tổ chức gồm 6 Vụ, Thanh tra, Cục Xúc tiến, Văn phòng; 8 đơn vị sự nghiệp và 15 doanh nghiệp trực thuộc. Cơ quan tham mưu cho UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong quản lý nhà nước về du lịch từ năm 1993 (đến trước khi tái sáp nhập vào Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) được quan tâm thành lập, củng cố và phát triển. Trước hết là việc thành lập 14 Sở Du lịch ở các tỉnh, thành phố là trung tâm du lịch; các tỉnh khác thành lập phòng du lịch nằm trong Sở Thương mại - Du lịch Một số địa phương ở cấp quận, huyện, thành phố trực thuộc tỉnh đã thành lập phòng quản lý du lịch. Đến trước thời điểm tái sáp nhập vào Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, bộ máy quản lý nhà nuớc về du lịch ở địa phương có 15 Sở Du lịch, 2 sở Du lịch-Thương mại, 46 sở Thương mại - Du lịch và 01 sở Ngoại vụ - Du lịch, hình thành một hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương.

Các cơ chế chính sách phát triển du lịch được bổ sung, tạo môi trường cho du lịch hoạt động thông thoáng. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 1995 - 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; quy hoạch các vùng du lịch và các trọng điểm du lịch đã được xây dựng; trên 50 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương và một số điểm du lịch, khu du lịch đã có quy hoạch, tạo điều kiện để đẩy mạnh quản lý du lịch và xây dựng các dự án đầu tư. Hàng trăm dự án quy hoạch chi tiết du lịch đang được khẩn trương thực hiện, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, góp phần quản lý, khai thác tài nguyên du lịch ngày một hiệu quả. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 7/2002. Chương trình Hành động quốc gia về Du lịch được Chính phủ phê duyệt và thực hiện có hiệu quả trong giai đoạn 1999-2009. 

Chính sách, thể chế tạo nền tảng thúc đẩy du lịch phát triển đã được hình thành và đổi mới phù hợp với điều kiện và xu hướng phát triển du lịch thế giới. Pháp lệnh Du lịch ra đời năm 1999 là khung pháp lý cao nhất, bước ngoặt quan trọng, khẳng định vai trò của Ngành và thể chế hoá đường lối phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước; tạo điều kiện cho hoạt động du lịch phát triển đi vào nề nếp và có định hướng, mục tiêu rõ ràng. Các nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh Du lịch về các lĩnh vực quản lý chi nhánh, văn phòng đại diện du lịch ở trong và ngoài nước; lữ hành, hướng dẫn du lịch; lưu trú; thanh tra du lịch; xử phạt hành chính; quản lý môi trường du lịch… đã được ban hành và thực hiện có hiệu quả. Năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Du lịch để điều chỉnh các quan hệ du lịch ở tầm cao hơn; khẳng định một lần nữa vị thế của ngành Du lịch ngay từ chính sách và thể chế.

Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến du lịch như Pháp lệnh xuất, nhập cảnh, cư trú, đi lại cho người Việt Nam; cho người nước ngoài và các văn bản liên quan khác được bổ sung; thủ tục hải quan được cải tiến thuận tiện hơn cho khách và các nhà đầu tư. Việc miễn thị thực song phương cho công dân các nước ASEAN và đơn phương cho công dân Nhật Bản, Hàn Quốc, 4 nước Bắc Âu, Nga và miễn lệ phí visa trong khuôn khổ Chương trình Ấn tượng Việt Nam, đang nghiên cứu xem xét đơn phương miễn thị thực cho công dân một số thị trường du lịch trọng điểm khác… là giải pháp chủ động, tích cực trong bối cảnh suy giảm kinh tế và dịch bệnh hiện nay để thu hút khách và các nhà đầu tư.

Lực lượng kinh doanh du lịch phát triển mạnh, thích nghi dần cơ chế mới, từng bước làm ăn có hiệu quả: Hoạt động du lịch thu hút sự tham gia của cả 6 thành phần kinh tế (nhà nuớc; tập thể; cá thể, tiểu chủ; tư bản tư nhân; tư bản nhà nước; 100% vốn nước ngoài). Trước Đại hội Đảng lần thứ IX, trong kinh doanh lữ hành chỉ có doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài được phép hoạt động, nay mở rộng cho cả doanh nghiệp tư nhân. Tính đến nay, cả nước đã có hơn 11.000 cơ sở kinh doanh lưu trú; 758 doanh nghiệp lữ hành quốc tế; hơn 10 nghìn doanh nghiệp lữ hành nội địa. Số lượng cơ sở kinh doanh du lịch tư nhân, cổ phần và hợp tác xã chiếm tỷ trọng lớn, xu hướng phát triển mạnh. Ngoài ra, còn có hàng nghìn hộ tư nhân kinh doanh du lịch hoạt động ở hầu hết các địa phương trong cả nước.

 

Bảng 1: Số lượng các doanh nghiệp lữ hành quốc tế (7/2009)

Khu vực

Tổng số

Nhà nước

Cổ phần

Liên doanh

TNHH

Tư nhân

Miền Bắc

402

32

170

3

196

1

Miền Trung

73

10

20

2

40

1

Miền Nam

283

27

51

7

196

2

Tổng số

758

69

241

12

432

4

 

Bảng 2: Số lượng hướng dẫn viên quốc tế được cấp thẻ

Tổng số

Phân loại theo ngoại ngữ sử dụng

Anh Pháp Trung Nga Đức Nhật Hàn TBN Ý Thái Khác
5.791 2.631 665 1.383 96 261 497 57 75 7 33 87

 

Việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp du lịch nhà nước được địa phương và Tổng cục Du lịch quan tâm. Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đã có chỉ thị, nghị quyết và đề án sắp xếp doanh nghiệp du lịch nhà nước. Tổng công ty Du lịch Sài Gòn (Saigon Tourist), Vietravel và một số doanh nghiệp du lịch đã phát huy vai trò chủ đạo trong hoạt động lữ hành, quảng bá, phát triển thị trường, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. Hà Nội đã thành lập Công ty mẹ - Công ty con trong du lịch. Đề án sắp xếp lại doanh nghiệp (trực thuộc Tổng cục Du lịch trước đây) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và đã tổ chức triển khai từ giai đoạn 2003 - 2005, theo hướng để lại 4 doanh nghiệp mạnh ở Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Vũng Tàu; hình thành “Công ty mẹ - Công ty con” trên cơ sở 8 công ty; cổ phần hoá các công ty hiện có. Tới nay, cả nước đã cổ phần hoá được trên 100 doanh nghiệp. Nhìn chung, sau khi cổ phần hóa, hoạt động hiệu quả hơn, đời sống người lao động được nâng lên.

 

Huy động các nguồn lực đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao chất luợng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch

Toàn Ngành và các địa phương, đặc biệt là ở các địa bàn trọng điểm du lịch, đã phát huy nội lực, huy động vốn từ nhiều nguồn để phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. Từ 2001 đến 2009, Chính phủ đã cấp 4.836 tỷ đồng hỗ trợ đầu tư hạ tầng du lịch ở các khu du lịch trọng điểm. Đã phối hợp với các ngành và địa phương chỉ đạo phát triển các trọng điểm du lịch, các vùng du lịch mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và Chiến lược phát triển du lịch 2001 - 2010 đã xác định; khai thác và phát  huy lợi thế về hạ tầng và điều kiện kinh tế - xã hội của các khu kinh tế mở và vùng kinh tế trọng điểm để phát triển du lịch; gắn kết hoạt động du lịch với hoạt động của các khu kinh tế mở, các vùng kinh tế trọng điểm.

 

Bảng 3. Vốn ngân sách TW hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch 2001-2009

 

Tổng số

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

Số vốn hỗ trợ (tỷ đồng)

4.836

266

380

450

500

550

620

750

620

700

Số tỉnh, thành phố được cấp vốn hỗ trợ

-

13

37

43

53

58

59

59

56

55

 

Vốn hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng từ ngân sách nhà nước đã khuyến khích các địa phương, các thành phần kinh tế đầu tư hàng nghìn tỷ đồng cho kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. Cùng với đầu tư của Nhà nước và các thành phần kinh tế nội địa, ngành Du lịch đã thu hút mạnh mẽ nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

 

Bảng 4. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thời kỳ 1995 - 2009

 

1995

2000

2001

2002

2003

2004

2007

2008

6 tháng đầu năm 2009

Số dự án

24

02

04

25

13

15

48

26

145

Vốn (triệu USD)

1.381,2

22,8

10,3

174,2

239

111,17

2.012

9.126

2.483

 

Việc tăng cường mở rộng hợp tác, thu hút vốn đầu tư, tài trợ của quốc tế đã đạt được những thành quả đáng khích lệ. Đặc biệt ngành Du lịch đã tranh thủ được nhiều tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ tài trợ cho phát triển du lịch về quy hoạch, phát triển nguồn nhân lực, cải cách hành chính, xây dựng văn bản quy phạm phát luật du lịch. Tổng cục Du lịch cũng đã chỉ đạo toàn Ngành tích cực tìm kiếm, khai thác nguồn đầu tư quốc tế. Các hoạt động xúc tiến du lịch trong và ngoài nước, bên cạnh việc quảng bá thu hút khách, đều ưu tiên đặc biệt kêu gọi đầu tư du lịch.

Cùng với dự án phát triển nguồn nhân lực do Luxembourg tài trợ với số vốn 10 triệu euros và dự án EU với mức 12 triệu euros, Tổng cục Du lịch đã tiếp nhận và điều hành dự án “Phát triển du lịch Mekong” do ADB tài trợ, với khoản kinh phí 12,2 triệu USD (có 8,47 triệu USD vốn vay ưu đãi) tập trung chủ yếu cho xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch tại đồng bằng sông Cửu Long.

Đầu tư ra nước ngoài, tuy còn mới đối với Du lịch Việt Nam, được thực hiện trên lợi thế so sánh trong khai thác giá trị văn hóa, nguyên liệu và lao động rẻ… Các dự án đầu tư ra nước ngoài được thực hiện dưới hình thức liên doanh hoặc 100% vốn, với các hình thức kinh doanh ăn uống tại một số nước láng giềng và các nước Nhật Bản, Đức, Lào và Hoa Kỳ. Tuy các dự án đầu tư ra nước ngoài chưa nhiều (9 dự án), quy mô nhỏ, nhưng đây là hướng đi đúng, đạt hiệu quả và phù hợp với xu hướng chung của hội nhập kinh tế thế giới. Đặc biệt, từ 2006, một số doanh nghiệp du lịch trong nước đã đầu tư kinh doanh cơ sở lưu trú tại Pháp, Đức và Mỹ.

Trong giai đoạn 2000 - 2009, cả nước đã nâng cấp, xây mới trên 60.000 phòng khách sạn (tăng gấp gần 2,5 lần so với 30 năm trước).

 

Bảng 5. Số lượng cơ sở lưu trú 1990-tháng 6/2009

Năm

1990

1994

1996

1998

2000

2002

2004

2006

2007

2008

6 tháng đầu năm 2009

Số lượng CSLTDL

350

1928

2540

2510

3267

4390

5847

6720

8550

10.400

10.800

Số buồng (1000)

16

36

50

61

72,2

92,5

125,4

160,5

184,8

205

213,2

 

Bảng 6. Khách sạn xếp hạng (tính đến tháng 6/2009)

Stt

Hạng Số lượng Số buồng

1

5 sao

33

8.564

2

4 sao

90

10.950

3

3 sao

176

12.674

4

2 sao

850

31.450

5

1 sao

990

20.790

6

Đạt tiêu chuẩn tối thiểu (*)

3.100

46.724

 

Tổng cộng

5.239

131.152

 

 

Bảng 7. Dự báo sự phát triển của cơ sở lưu trú du lịch đến năm 2015

Stt Hạng Số lượng Số buồng

1

5 sao

70

22.000

2

4 sao

180

30.000

3

3 sao

500

40.000

4

2 sao

2.500

92.000

5

1 sao

5.000

110.000

6

Đạt tiêu chuẩn KDLTL

6.000

90.000

 

Tổng cộng

14.250

384.000

 

Phương tiện vận chuyển khách du lịch phát triển đa dạng cả đường ô tô, đường sắt, đường thuỷ và dần được hiện đại hóa. Một số khu du lịch nghỉ dưỡng, sân golf, công viên chuyên đề và cơ sở giải trí được đưa vào hoạt động, đáp ứng nhu cầu của du khách và nhân dân.

Năng lực vận chuyển khách du lịch tăng, chất lượng được nâng lên. Phương tiện vận chuyển khách du lịch với hàng nghìn xe ô tô, tàu thuyền các loại, chất lượng phương tiện được tăng cường đổi mới thường xuyên; nhiều đội xe taxi ở các điểm du lịch được thành lập, đáp ứng kịp thời nhu cầu đi lại của du khách; nhiều tuyến du lịch đường biển, đường sông như Hải Phòng - Quảng Ninh, Hải Phòng - TP.Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh đi Vũng Tàu, Cần Thơ… đã sử dụng tàu công suất lớn, trang thiết bị hiện đại.

Với cơ sở vật chất kỹ thuật như hiện nay, ngành Du lịch nước ta đã đảm bảo phục vụ hàng chục triệu lượt khách quốc tế và nội địa, tổ chức được các sự kiện, hội nghị quốc tế lớn.

Toàn ngành đã chú trọng xây dựng phát triển nhiều loại hình du lịch, các tuyến du lịch mới cả đường bộ, đường sông, đường biển, nối các điểm du lịch, khu du lịch ở miền núi, cao nguyên, đồng bằng, vùng ven biển và hải đảo. Hình thành các loại hình du lịch mới, đặc thù như đi bộ, leo núi, lặn biển, hang động, du lịch đường bộ xuyên Việt bằng xe đạp, mô tô, caravan, du lịch đồng quê, về cội nguồn… Chú trọng khai thác giá trị nhân văn giàu bản sắc dân tộc, tổ chức các hội thi nấu ăn, thi hướng dẫn viên du lịch… để nâng cao chất lượng sản phẩm. Mỗi năm đều có chủ đề riêng, không tách rời các sự kiện lớn của dân tộc.

 

 

 

Vụ Thị trường Du lịch