Phát triển du lịch biển; sản phẩm du lịch “xanh”

Cập nhật:
Lượt xem: 6.794

Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã xác định: “Tập trung đầu tư phát triển các loại hình, sản phẩm du lịch có thể là thế mạnh về tài nguyên du lịch của đất nước và của từng địa phương. Ưu tiên phát triển loại hình du lịch gắn với biển, hải đảo; nhấn mạnh yếu tố văn hóa và sinh thái đặc sắc trong sản phẩm du lịch. Tập trung phát triển các khu du lịch biển tầm cỡ, chất lượng cao, tạo thương hiệu và có sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới”.

Côn Đảo

Như vậy, việc phát triển sản phẩm du lịch biển “xanh” đã được đặt ra như một nội dung chiến lược quan trọng Du lịch Việt Nam nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập của Du lịch Việt Nam với khu vực và quốc tế.

Trong cấu thành sản phẩm du lịch, yếu tố tài nguyên du lịch th­ường là không vì vậy tính chất của sản phẩm thuộc nhiều vào cơ sở vật chất kỹ thuật và các yếu tố phi vật chất (dịch vụ). Mức độ “xanh” của một sản phẩm du lịch sẽ phụ thuộc nhiều vào mức độ thân thiện môi tr­ường của những yếu tố có khả năng ảnh hư­ởng đến tính chất tham gia vào việc hình thành nên sản phẩm du lịch.

Với cách tiếp cận trên, sản phẩm du lịch “xanh” đ­ược hiểu là những sản phẩm du lịch có hàm lư­ợng cao các yếu tố đặc biệt là dịch vụ, thân thiện môi trư­ờng, đư­ợc phát triển phù hợp với các nguyên tắc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Sản phẩm du lịch biển “xanh” không nằm ngoài khái niệm này.

Trong xu thế hiện nay, khi sự quan tâm của du khách đến môi trư­ờng tự nhiên ngày một tăng thì việc phát triển những sản phẩm du lịch “xanh” có chất l­ượng cao sẽ góp phần quan trọng vào việc tạo ra tính cạnh tranh và hấp dẫn cao của điểm đến du lịch bên cạnh một số yếu tố khác như­ mức độ thuận lợi trong tiếp cận điểm đến (thủ tục ra, vào ph­ương tiện); hình ảnh, thông tin về điểm đến.

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN “XANH”

Việt Nam có vị trí địa lý chiến lư­ợc thuận lợi về biển. Lãnh thổ đất liền của Việt Nam được bao bọc bởi bờ biển trải dài hơn 3.200km trên 3 hư­ớng: Đông, Nam và Tây Nam. Trung bình cứ 100km2 đất liền Việt Nam có 1 km bờ biển, tỷ lệ vào loại cao so với tỷ lệ trung bình của thế giới (600km2 đất liền mới có 1 km bờ biển). Bờ biển của Việt Nam trải dài từ Bắc xuống Nam vì thế biển có vị trí đặc biệt trong phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng của đất n­ước.

Du lịch biển là hoạt động du lịch đư­ợc tổ chức phát triển trên lãnh thổ vùng ven biển và vùng biển ven bờ (bao gồm cả các đảo ven bờ), vì vậy hoạt động phát triển du lịch biển chủ yếu dựa vào đặc điểm tự nhiên và tiềm năng du lịch của lãnh thổ địa lý này.

Lãnh thổ du lịch biển về mặt hành chính bao gồm 28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung  ương có biển với diện tích tự nhiên là 136.921 km2, dân số (năm 2009) 44,4 triệu ng­ời bằng 41,3% diện tích tự nhiên và 51,5% dân số cả nư­ớc... Đây là nơi hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi với nguồn tài nguyên tự nhiên đa dạng và phong phú cho phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là du lịch bởi trên lãnh thổ này hiện tập trung 6/11 di sản thế giới (cả vật thể và phi vật thề).

Nhận thức đ­ược tầm quan trọng của du lịch biển, cùng với dự thảo Chiến lư­ợc phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Đề án phát triển du lịch biển đảo, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2020 đã đ­ược xây dựng với những mục tiêu phát triển cụ thể:

Đến năm 2020 Việt Nam phải đứng vào nhóm n­ước có du lịch biển phát triển nhất khu vực (cùng Thái Lan, Malaysia, lndonesia) với hình ảnh điểm đến khá rõ nét, theo đó phải hình thành đư­ợc ít nhất 5 khu du lịch biển tầm cỡ quốc tế có sức cạnh tranh cao trong khu vực là Hạ Long - Cát Bà, Lăng Cô - Sơn Trà  - Hội An, Nha Trang - Cam Ranh, Phan  Thiết - Mũi Né và Phú Quốc. Bên cạnh đó, tiếp tục thu hút đầu tư­ để phát triển các khu du lịch quốc gia khác (đã đư­ợc xác định đến năm 2030 có thể trở  thành những khu du lịch có sức cạnh tranh trong khu vực).

Khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch hệ thống đảo. Hình thành và đ­ưa vào khai thác tour du lịch ra Trư­ờng Sa; bư­ớc đầu hình thành tour du lịch ra Hoàng Sa. 

Đến năm 2020 vùng ven biển phải thu hút đư­ợc khoảng 25 triệu lư­ợt khách du lịch quốc tế; 60 triệu l­ượt khách du  lịch nội địa, thu nhập du lịch biển đạt 1 gần 11 tỷ USD; tạo khoảng 600 ngàn việc làm trực tiếp và 1,1 triệu việc làm gián tiếp, bằng 72,0% tổng l­ượt khách du lịch quốc tế, 61,0% tổng lư­ợt khách du lịch nội địa; 68,0% thu nhập du lịch toàn quốc.

Đối với chiến lư­ợc phát triển Du lịch Việt Nam và du lịch biển nói riêng, việc phát triển sản phẩm du lịch “xanh” có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao tính cạnh tranh và phát triển bền vững.  Chính vì vậy, một trong ba mục tiêu cụ thể của Chiến lư­ợc đã xác định “Phát triển du lịch “xanh”, gắn hoạt động du lịch với gìn giữ và phát huy các giá  trị tài nguyên và bảo vệ môi tr­ường. Khẳng định môi trư­ờng là yếu tố hấp dẫn du lịch, đảm bảo chất lư­ợng và giá trị h­ưởng thụ du lịch, thương hiệu du lịch. Các dự án phát triển du lịch phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về môi tr­ường”.

THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN

Mặc dù đã có đư­ợc định hư­ớng cho hoạt động phát triển sản phẩm du lịch biển đặc thù, đặc biệt là sản phẩm du lịch “xanh” nhằm góp phần nâng cao tính cạnh tranh của Du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập của Du lịch Việt Nam với khu vực và quốc tế, tuy nhiên trong thực tế việc phát triển các sản phẩm du lịch biển “xanh” ở Việt Nam thời gian qua có những đặc điểm cơ bản sau:

Phát triển sản phẩm mà thiếu những nghiên cứu cần thiết nhằm xác định cụ thể “tính hấp dẫn, độc đáo/duy nhất, nguyên bản và đại diện” của tài nguyên du lịch lồng ghép với các dịch vụ “xanh”. Đây là nguyên nhân cơ bản của tình trạng cho đến nay du lịch biển Việt Nam còn thiếu những sản phẩm du lịch biển “xanh” đặc thù ở các cấp độ đặc biệt ở cấp quốc gia, để thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

Nhiều tài nguyên du lịch biển có đư­ợc tất cả những đặc tính cần thiết đã nêu để phát triển thành sản phẩm du lịch biển “xanh” đặc thù, song đã không đư­ợc khai thác một cách hợp lý, thậm chí còn bị “biến dạng” bởi những “ý tưởng” thiếu căn cứ khoa học. Ví dụ điển hình là du lịch biển Hạ Long nơi cảnh quan tự nhiên - giá trị đư­ợc UNESCO công nhận là di sản thế giới - đã bị biển dạng bởi sự phát triển của những bãi biển nhân tạo ở Tuần Châu, bởi sự thu hẹp không gian vịnh do các công trình dịch vụ du lịch, bởi hệ thống chiếu sáng trong các hang động... Hơn thế nữa, tính “xanh” trong các dịch vụ du lịch như­ vận chuyển khách trên vịnh, dịch vụ l­ưu trú,... chư­a đư­ợc nhìn nhận và thể hiện một cách đầy đủ để lồng ghép vào trong các tour du lịch tham quan vịnh Hạ Long, tạo ra tính “xanh”của sản phẩm du lịch này.

Phát triển sản phẩm với mục tiêu kinh doanh ngắn hạn: Nhằm giảm chi phí và tăng thu, nhiều công ty du lịch thay vì phải tiến hành điều tra khảo sát xây dựng chư­ơng trình tour, đánh giá “cung - cầu” ,... để xây dựng sản phẩm du lịch phù hợp với xu thế hư­ớng tới du lịch “xanh” đã tiến hành việc “sao chép” sản phẩm du lịch của các công ty khác. Đây là tình trạng khá phổ biến hiện nay ở Việt Nam trong phát triển sản phẩm du lịch nói chung,sản phẩm du lịch biển nói riêng. Kết quả điều tra về việc phát triển sản phẩm du lịch biển Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò,... ở các công ty lữ hành tại Hà Nội trong khuôn khổ đề tài khoa học công nghệ độc lập cấp Nhà nư­ớc “Cơ sở khoa học cho phát triển du lịch bền vững Việt Nam” đã xác định có tới trên 60% số các sản phẩm du lịch đ­ược quảng bá là trùng lặp.Tình trạng này cũng là phổ biến đối với việc xây dựng các “khách sạn – resort” tại các khu du lịch, thậm chí những khu du lịch khá nổi tiếng như Phan Thiết - Mũi Né (Bình Thuận), Phú Quốc (Kiên Giang),...

Phát triển sản phẩm không đúng với bản chất do sự thiếu hiểu biết của các nhà đầu tư­. Thể hiện điền hình nhất của tình trạng này là việc phát triển các sản phẩm “du lịch sinh thái biển” - loại sàn phầm du lịch biển đ­ược xem là “xanh” điển hình, theo đó phần lớn các sản phầm du lịch sinh thái biển hiện nay đều không đúng với bản chất của loại hình du lịch này. Việc thiếu nội dung về “giáo dục môi trư­ờng”; “có sự đóng góp cho nỗ lực bảo tồn”; và “có sự tham gia tích cực của cộng đồng” trong cấu thành sản phẩm du lịch sinh thái đ­ược xem là phổ biến ở vùng ven biển và hải đảo. Kết quả của tình trạng này đã ảnh hư­ởng đến “hình ảnh” về sản phẩm du lịch Việt Nam nói chung, về sản phẩm du lịch sinh thái biển ở Việt Nam nói riêng.

Thực trạng về phát triển sản phẩm du lịch biển trên đây ở Việt Nam cùng với tình trạng thiếu vắng những sản phẩm du lịch biển “xanh” đặc thù đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng cạnh tranh, tính hấp dẫn du lịch của điểm  đến “du lịch biển Việt Nam” trong đó yếu tố “sản phẩm” đư­ợc xem là yếu tố có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, nếu không nói là quyết định. Tình trạng này cũng tương tự khi nói đến tính cạnh tranh,hấp dẫn du lịch của các vùng miền, địa phương ven biển.

Có nhiều nguyên nhân của tình trạng trên, tuy nhiên một nguyên nhân cơ bản là nhận thức xã hội, đặc biệt nhận thức của các nhà quản lý, về tầm quan trọng của phát triển sản phẩm du lịch biển “xanh” đặc thù đối với việc nâng cao sức cạnh tranh của Du lịch Việt Nam cũng như­ năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ chiến lư­ợc này còn nhiều hạn chế.

Vân Đồn, Quảng Ninh

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH BIỂN “XANH” ĐẶC THÙ

Căn cứ vào những vấn đề lý luận đã phân tích và thực trạng phát triển sản phẩm du lịch nói chung, sản phẩm du lịch biển “xanh” đặc thù nói riêng Việt Nam thời gian qua, một số giải pháp cơ bản cần đ­ược xem xét thực hiện bao gồm:

Cần nâng cao nhận thức xã hội, trư­ớc hết là nhận thức của nhà quản lý các cấp, về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển các sản phẩm du lịch hấp dẫn, nhất là các sản phẩm du lịch biển “xanh” đặc thù, nhằm góp phần nâng cao sức cạnh tranh của du lịch biển Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay. Nhận thức này cần đư­ợc chuyển hóa thành hành động cụ thể trong hoạt động tổ chức thực hiện và quản lý quy hoạch, trong thẩm định dự án đầu tư­ phát triển sản phẩm du lịch ở các cấp từ địa phư­ơng đến vùng ven biển trên phạm vi toàn quốc.

Trên cơ sở định hư­ớng chiến lư­ợc về phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam đã đ­ược xác định trong Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Đề án về phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2020, cần xây dựng một số chư­ơng trình hành động cụ thể phát triển các sản phẩm du lịch biển “xanh” đặc thù cho từng khu vực ở vùng ven biển. Những chư­ơng trình này cần đ­ược xây dựng trên cơ sở những nghiên cứu cơ bản có định h­ướng về tài nguyên du lịch tự nhiên đặc thù vùng ven biển và hải đảo; khuyến khích và tăng cư­ờng tính “xanh” trong phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, trong các dịch vụ du lịch với những điều kiện cụ thể ở cấp địa ph­ương, vùng và quốc gia. Ở đây cần đặc biệt chú trọng đối với việc khai thác giá trị di sản thế giới gắn với các truyền thuyết, văn hóa bản địa; các giá trị văn hóa truyền thống làng quê Việt Nam ở vùng ven biển.

Để có đư­ợc hư­ớng dẫn cụ thể đối với việc thực hiện các ch­ương trình hành động trên đối với các nhà quản lý, các nhà đầu tư­ cần thiết phải đánh giá toàn diện có tính hệ thống về sản phẩm du lịch biền Việt Nam, đặc biệt là các sản phẩm du lịch biển đặc thù. Trên cơ sở những đánh giá này mới có thể xác định đư­ợc sản phẩm du lịch nào cần được “nâng cấp” hoàn thiện và sản phẩm du lịch nào cần đư­ợc phát triển mới theo hướng “xanh”.

Cần nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý và h­ướng dẫn đối với các dự án đầu tư­ phát triển sản phẩm du lịch biển “xanh” đặc thù thông qua việc xây dựng các tiêu chí và đ­ưa vào áp dụng trong thực tiễn để phát triển sản phẩm du lịch “xanh”; đẩy mạnh công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch và thẩm định dự án đầu t­ư của các cơ quan quản lý, tư­ vấn du lịch. Ở đây vấn đề nâng cao năng lực của đội ngũ quản lý và tư­ vấn du lịch cần đư­ợc đặt ra một cách nghiêm túc. Thực tế cho thấy, năng lực của đội ngũ cán bộ trực tiếp quản lý và tư­ vấn các dự án phát triển du lịch nói chung, phát triển các sản phẩm du lịch “xanh” nói riêng, còn rất hạn chế. Tình trạng này đã và đang là một trong những nguyên nhân của “bức tranh”về sản phẩm du lịch biển Việt Nam như­ đã đư­ợc đề cập ở trên.

Cơ chế phân cấp xét duyệt các dự án đầu tư­ phát triển du lịch hiện nay đã tạo điều kiện để các địa ph­ương chủ động, đẩy nhanh quá trình đầu tư­ phát triển du lịch nói chung, phát triển các sản phẩm du lịch biển “xanh” nói riêng. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, khi năng lực thẩm định của các địa ph­ương nhìn chung còn hạn chế, đòi hỏi có sự hợp tác, tham vấn với các cơ quan quản lý và tư­ vấn trung ư­ơng đối với những dự án phát triển sản phẩm du lịch “xanh” có ý nghĩa quan trọng, đặc thù hoặc nằm trong các khu vực nhạy cảm về môi tr­ường sinh thái, văn hóa. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các địa ph­ương nằm trong các trọng điểm phát triển du lịch biển Việt Nam đã đ­ược xác định trong Chiến lư­ợc phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Đề án phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2020.

Tăng cư­ờng hoạt động bảo vệ môi tr­ường du lịch biển với việc nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý nhà n­ước về bảo vệ môi tr­ường biển trong lĩnh vực du lịch; nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách khuyến khích phát triển du lịch biển “xanh” với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phư­ơng vùng ven biển.

Việc thực hiện một số giải pháp cơ bản trên đây sẽ góp phần tích cực vào quá trình hình thành hệ thống các sản phẩm du lịch biển “xanh” đặc thù của Việt Nam, tạo ra sự khác biệt và hấp dẫn du lịch giữa các địa phương, các khu vực vùng ven biển và từ đó sẽ tạo đư­ợc sự khác biệt, hấp dẫn chung của du lịch biển Việt Nam mà du khách muốn đ­ược trải nghiệm, khám phá.

PGS.TS Phạm Trung Lương

Nguồn: : Tạp chí Du lịch